Chào mừng quý vị đến với website Chuyên môn Tiểu học.

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Gốc > Tư liệu Việt Nam > Lịch sử Việt Nam > Nhân vật lịch sử >

Nguyễn Tài

Nguyễn Tài (1926?), tên khai sinh là Nguyễn Tài Đông, biệt danh Tư Trọng, nguyên là Cục trưởng Cục bảo vệ chính trị Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Thứ trưởng Bộ Công an Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Trong chiến tranh ViệtNam, ông là tù nhân của CIA trong 5 năm, với biệt danh "The Man in the Snow While Cell" [1].

Nguyễn Tài Đông là người con thứ hai của nhà văn Nguyễn Công Hoan, nhưng ông không theo nghiệp văn. Ông tham gia hoạt động cách mạng năm 1944, bắt đầu công tác trong ngành công an từ sau Cách mạng tháng Tám. Năm 1944 lúc 19 tuổi, tràn đầy hoài bão và lý tưởng cách mạng, Nguyễn Tài rời Đội Thanh niên cứu quốc thành Hoàng Diệu, lên chiến khu học lớp quân sự ngắn ngày tại trường quân chính kháng Nhật. Mãn khóa, vốn quân sự tạm gác lại, Nguyễn Tài được Võ Nguyên Giáp phân công về nhà in báo Nước Nam mới đặt tại Khu giải phóng.

Tháng 9-1945, từ chiến khu về Hà Nội, Nguyễn Tài được phân công công tác tại Sở Liêm phóng rồi Sở Công an Bắc bộ, đảm trách một số công tác bí mật của Phòng Chính trị. Năm 1947 sau khi các lực lượng vũ trang rút khỏi Hà nội, ông lại trở về nội thành, nhận nhiệm vụ mới: Thành ủy viên Thành ủy Hà Nội phụ trách công tác trí thức vận, đồng thời đảm nhận chức Phó Giám đốc Công an.

Sau Hiệp định Geneve, ông và Trần Vỹ 2 thành ủy viên được cử vào đoàn đại biểu của Việt Nam dân chủ cộng hòa tại Hội nghị Phù Lỗ, bàn về các vấn đề quân sự và hành chính để chuyển giao khu chu vi Hà Nội.

Sau đó ông lại được giao nhiệm vụ mới - giúp Hải Dương tiếp quản, sau đó, tham gia Ủy ban Liên hiệp đình chiến Trung ương, tiếp tục đấu tranh trên bàn hội nghị để đi đến ký kết Hiệp định chuyển giao tiếp quản khu vực Hải Phòng trong thời hạn 300 ngày, theo quy định của Hiệp định Geneve.

Năm 1958, khi mới 32 tuổi, ông giữ vị trí Cục trưởng Cục bảo vệ chính trị, Bộ Công an Việt Nam - một chức vụ quan trọng trong ngành Công an Việt Nam.

Bị bắt khi hoạt động tại miền Nam [sửa]

Năm 1964, ông vào hoạt động trong chiến trường miềnNam, giữ cương vị Phó ban An ninh Sài Gòn Gia định.

Ngày 23 tháng 12 năm 1970 trên đường đi công tác, ông bị bắt.

Tháng 11 năm 1971, Bí thư thành ủy Sài Gòn - Gia Định Trần Bạch Đằng viết thư nhân danh Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam gửi Mỹ đặt vấn đề trao đổi Nguyễn Tài với một tù binh Mỹ là Douglas Ramsey - nhân viên bộ ngoại giao Mỹ bị bắt từ năm 1966[1]. Mỹ từ chối vì cho rằng "Nguyễn Tài quá quan trọng để đáng đổi lấy Ramsey". Sau này, Bộ trưởng Bộ Công an Trần Quốc Hoàn nói rằng đó là một hình thức ngăn cản Mỹ và Việt Nam Cộng hòa thủ tiêu Nguyễn Tài[2]. Kết quả là các cuộc tra tấn đối với Nguyễn Tài lập tức chấm dứt, mạng sống của ông trở thành quá giá trị đối với CIA để có thể rủi ro, "ông trở thành một con tốt trong một ván cờ chính trị cấp cao"[1].

Đầu năm 1972, Nguyễn Tài được chuyển đến Trung tâm Thẩm vấn Quốc gia tại Sài Gòn, biệt giam suốt 3 năm sau đó trong một xà lim sơn trắng toàn bộ, đèn bật sáng suốt ngày đêm, làm lạnh bởi một máy điều hòa nhiệt độ công suất cao - căn phòng được thiết kế để làm ông mất định hướng. Tại đây, người Mỹ đảm nhận hoàn toàn việc thẩm vấn ông.[3]

Trước khi Quân Giải phóng miền Nam tiến vào Sài Gòn ngày 30 tháng 4 năm 1975, một sĩ quan cao cấp Việt Nam Cộng hòa đã ra lệnh thủ tiêu Nguyễn Tài. Nhưng người được lệnh đã không thực hiện.

Hoạt động sau năm 1975 [sửa]

Sau khi ra khỏi nhà tù, Nguyễn Tài quay lại làm việc ở Bộ Công an Việt Nam với chức vụ Thứ trưởng. Rồi ông bị đình chỉ công tác vì có một tài liệu nói ông đã bị CIA sử dụng cùng với một số nội dung về ông trong hồi ký Decent Interval của Frank Snepp - chuyên gia CIA từng tham gia thẩm vấn ông. Sau đó ông được điều về công tác tại Ủy ban Pháp luật Nhà nước, rồi làm Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan ViệtNam.

Ông về hưu năm 1992.

Năm 2002, ông được Nhà nước ViệtNamphong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Cố vấn Võ Văn Kiệt đã đưa ra đề nghị này với hai lý do: "Trung kiên bảo vệ Cách mạng trong nhà tù Mỹ - Ngụy" và "dũng cảm bảo vệ nhân cách trong sáng của một đảng viên trước nhân dân"

��b�O�P�bay AN-26 của Liên Xô, vì đã có kinh nghiệm dày dạn tại Mỹ cũng như kinh nghiệm thực tiễn tại chiến trường nên Nguyễn Thành Trung tiếp thu rất nhanh và được giữ lại làm giảng viên, đào tạo phi công phục vụ vận chuyển cho chiến trường Campuchia.

 

Mặt khác để chứng minh sự trong sạch và lòng trung thành của mình, Nguyễn Thành Trung tiếp tục hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đồng thời giữ liên lạc với những người đã kết nạp Đảng, phân công nhiệm vụ tình báo cho cán bộ cách mạng như là các ông Võ Văn Kiệt (Bí thư Thành Ủy, sau này là Thủ tướng), Phó Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Võ Danh, Bí thư Quận ủy Nguyễn Hữu Chí (tức Tư Chí)... để làm chứng cho ông. Cuối cùng Nguyễn Thành Trung cũng được minh oan và những đóng góp to lớn của ông đã được Nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân ngày 20 tháng 1 năm 1994.

Người phi công lão luyện

Sau đó ông là Phó Tổng Giám đốc Hãng hàng không quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines), cơ trưởng, giáo viên của loại máy bay Boeing 777 và là phi công dày dạn kinh nghiệm nhất của Việt Nam với hơn 35 năm kinh nghiệm và hơn 22000 giờ bay[7].

Ngày 1 tháng 10 năm 2008, ông đã tham gia tổ phi công lái máy bay Beechcraft King Air 350, số seri FL-417 cho bầu Đức, người được coi là người đầu tiên dưới chính thể mới tại Việt Nam đã sở hữu máy bay riêng[8].


Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Hồng Hà @ 15:22 01/06/2013
Số lượt xem: 382
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến