Chào mừng quý vị đến với website Chuyên môn Tiểu học.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Hùng Vương - vua Hùng

Hùng Vương, hay vua Hùng, là tên hiệu các vị thủ lĩnh tối cao của nhà nước Văn Lang của người Lạc Việt. Theo truyền thuyết, các vua này là hậu duệ của Lạc Long Quân và Âu Cơ.
Truyền thuyết khởi đầu
Đại Việt Sử ký Toàn thư, phần lời tựa của Ngô Sĩ Liên chép: "Nước Đại Việt ở phía nam Ngũ Lĩnh, thế là trời đã phân chia giới hạn Nam–Bắc. Thuỷ tổ của ta là dòng dõi họ Thần Nông, thế là trời sinh chân chúa, có thể cùng với Bắc triều mỗi bên làm đế một phương"[1].
Lại chép về họ Hồng Bàng như sau: "Xưa cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi, Rồi sau Đế Minh đi tuần phương Nam, đến dãy Ngũ Lĩnh gặp Vụ Tiên nữ sinh ra Vương (Lộc Tục). Vương là bậc Thánh trí thông minh. Đế Minh yêu quí lạ, muốn cho nối ngôi. Vương cố nhường cho anh mình, không dám vâng mệnh. Đế Minh vì thế lập Đế Nghi là con trưởng nối dòng trị phương Bắc. Lại phong cho vua là Kinh Dương Vương, trị phươngNam, đặt tên nước là Xích Quỉ. Vương lấy con gái Chúa Động Đình tên là Thần Long, sinh ra Lạc Long Quân."[2].
"LĩnhNamchích quái" thời Trần viết rằng: "Âu Cơ kết hôn với Lạc Long Quân, sinh ra một bọc trăm trứng, nở ra một trăm người con. Về sau, Lạc Long Quân chia tay với Âu Cơ; 50 người con theo cha xuống biển, 50 người con theo mẹ lên núi. Người con cả được tôn làm vua, gọi là Hùng Vương." (Hoặc nằm trong truyện Con rồng cháu tiên)
Xã hội Văn Lang dưới thời các vua Hùng
Đứng đầu nước Văn Lang là các thủ lĩnh tối cao, được biết đến với tôn hiệu Hùng Vương. Hùng Vương đồng thời là người chỉ huy quân sự, chủ trì các nghi lễ tôn giáo. Dưới Hùng Vương có các Lạc tướng, Lạc hầu giúp việc. Cả nước chia thành 15 bộ (đơn vị hành chính lớn) có Lạc tướng còn trực tiếp cai quản công việc của các bộ. Dưới nữa là các Bố chính, đứng đầu các làng bản.
Kinh đô của nhà nước Văn Lang được cho là đặt ở Phong Châu[3], nay thuộc tỉnh Phú Thọ.
Công cụ là đồng thau trở nên phổ biến và bắt đầu có công cụ bằng sắt. Có nên kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước, dùng sức cày kéo của trâu bò là phổ biến nhất.
Ngoài ra còn săn bắt, chăn nuôi, đánh cá và làm nghề thủ công như đúc đồng, làm đồ gốm. Sự phân công lao động giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp đã xuất hiện.
Các vị vua
Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, tính từ thời Kinh Dương Vương (2879 TCN) cho đến hết thời Hùng Vương (năm 258 TCN) kéo dài 2.622 năm[3]. Nhà nước Văn Lang tồn tại đến năm 258 TCN thì bị Thục Phán (tức An Dương Vương) thôn tính. 18 vị vua Hùng như sau:[4] (số năm trị vì là ước đoán)
Hùng Dương (Lộc Tục): 2879 - 2794 TCN
Hùng Hiền (Lạc Long Quân): 2793 - 2525 TCN
Hùng Lân (vua): 2524 - 2253 TCN
Hùng Việp: 2252 - 1913 TCN
Hùng Hy (trước): 1912 - 1713 TCN
Hùng Huy: 1712 - 1632 TCN
Hùng Chiêu: 1631 - 1432 TCN
Hùng Vỹ: 1431 - 1332 TCN
Hùng Định: 1331 - 1252 TCN
Hùng Hy (sau): [5] 1251 - 1162 TCN
Hùng Trinh: 1161 - 1055 TCN
Hùng Võ: 1054 - 969 TCN
Hùng Việt: 968 - 854 TCN
Hùng Anh: 853 - 755 TCN
Hùng Triều: 754 - 661 TCN
Hùng Tạo: 660 - 569 TCN
Hùng Nghị: 568 - 409 TCN
Hùng Duệ: 408 - 258 TCN
Nguyễn Hồng Hà @ 18:45 16/04/2013
Số lượt xem: 1351
- Lý Đạo Thành (16/04/13)
- Lý Nhân Tông (16/04/13)
- Lý Thái Tông - Lý Phật Mã (16/04/13)
- Cao Lỗ (15/04/13)
- Dã Tượng (15/04/13)
Các ý kiến mới nhất