Chào mừng quý vị đến với website Chuyên môn Tiểu học.

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Gốc > Tư liệu Việt Nam > Lịch sử Việt Nam > Địa danh lịch sử >

Địa đạo Vịnh Mốc

Địa đạo Vịnh Mốc (thôn Vịnh Mốc, xã Vĩnh Thạch, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị) là một công trình quân - dân sự trong Chiến tranh Việt Nam của phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhằm chống lại các cuộc tấn công của phía Việt Nam Cộng hòa và Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Hệ thống địa đạo tồn tại ở phía Bắc sông Bến Hải, cầu Hiền Lương trong suốt những năm 1965-1972.

Lịch sử

Trong những năm 1960, chính quyền Việt Nam Cộng hòa của Ngô Đình Diệm không tôn trọng hiệp định Genève, 1954 và không tiến hành tổng tuyển cử như dự định. Cùng với việc tấn công vào các phong trào nổi dậy ở miền Nam, Mỹ đã ra sức khiêu khích, gây chiến với lực lượng Việt Nam dân chủ cộng hòa bảo vệ giới tuyến ở Vĩnh Linh. Năm 1965, Mỹ đã tạo ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ để bắt đầu cuộc chiến tranh phá hoại ra miền Bắc bằng không lực, trong đó Vĩnh Linh là mục tiêu đánh phá hàng đầu.

Trong suốt những năm 1965 - 1972, Vĩnh Linh liên tục bị đánh phá với tổng cộng hơn nửa triệu tấn bom đạn các loại[1]. Tính bình quân, mỗi người dân ở đây đã phải gánh chịu 7 tấn bom đạn Mỹ.[1]

Quá trình xây dựng

Địa đạo đầu tiên xuất hiện ở ViệtNamtừ năm 1947 tại vùng Phú Thọ Hòa (nay thuộc Tân Bình - Thành phố Hồ Chí Minh). Rồi sau đó, những năm 1961 - 1965, ở Củ Chi đã xuất hiện hệ thống địa đạo lan rộng khắp 5 xã. Vào cuối năm 1963, ông Trần Nam Trung từ Trung ương Cục Đảng cộng sản Việt Nam ở miền Nam Việt Nam trên đường ra Bắc đã ghé thăm khu vực chiến sự ở xã Vĩnh Giang (Vĩnh Linh). Sau khi quan sát địa hình, địa chất ở nơi đây, ông gợi ý Vĩnh Linh nên đào địa đạo như ở Củ Chi. Với phương châm: "Một tấc không đi, một li không rời. Mỗi làng, xã là một pháo đài". Thông qua chỉ thị của khu ủy Vĩnh Linh, đồn trưởng đồn công an vũ trang nhân dân 140 Lê Xuân Vy đã chỉ huy đơn vị và nhân dân địa phương nhanh chóng tiến hành đào địa đạo. Công trình được bắt đầu từ đầu năm 1965 và được hoàn thành vào ngày 18/02/1966. Điều đặc biệt là vị chỉ huy công trình này (công trình sư) lúc bấy giờ học vấn của ông chỉ vừa hết tiểu học. Hiện nay ông là cựu trung tá đang tá túc ở thành phố Đông Hà và bị mù do ảnh hưởng bởi vết thương trong chiến tranh.Hiện nay Đ Đ V M đã trở thành di tích lịch sử và phục vụ cho dịch vụ du lịch điều đáng tiếc là không ai còn nhắc đến cái tên Lê Xuân Vy người đúng ra phải có tên đi kèm với công trình có một không hai này...

Cấu trúc

Tập tin:The Structureplan of Vinh Moc Tunnels.JPG

Sơ đồ cấu trúc làng địa đạo Vịnh Mốc

Ðể bảo đảm cho hàng trăm con người ăn, ở, sinh hoạt an toàn, tiện lợi, dọc hai bên đường hầm người ta xây dựng rất nhiều căn hộ, mỗi căn hộ đủ chỗ cho ba đến bốn người ở. Trong lòng địa đạo có ba giếng nước, một hội trường (với sức chứa 50 người), bệnh xá, nhà hộ sinh, trạm phẫu thuật, bếp Hoàng Cầm, kho gạo, trạm đặt máy điện thoại[2]...

Hai bên trục đường chính cách nhau từ ba đến năm mét lại khoét lõm sâu vào thành một hầm nhỏ, dùng làm nơi sinh hoạt của một gia đình. Ðịa đạo được cấu tạo thành ba tầng. Tầng một sâu cách mặt đất từ 12 đến 15 m, là nơi sinh sống của nhân dân[2].

Tầng hai sâu 18 m là nơi đóng trụ sở của Ðảng ủy, UBND và Bộ Chỉ huy quân sự. Tầng ba sâu 22 m dùng làm kho chứa hậu cần cung cấp cho đảo Cồn Cỏ và phục vụ chiến đấu của quân dân Vịnh Mốc[2].

Đặc điểm

Theo thống kê, có đến 18.000 ngày công được huy động để đào địa đạo Vịnh Mốc trong hai năm. Địa đạo này được đào ở vùng đất đỏ bazan từ năm 1965 và hoàn thành 2 năm sau đó, năm 1967 với tổng chiều dài trục chính hơn 2.000 m. Cứ 4 m có 1 căn hộ gia đình, rộng 0,8 m, sâu 1,8 m, dùng cho 4 người ở. Không khí làm cho đất sét trong lòng địa đạo càng ngày càng cứng chắc hơn nên nó vẫn tồn tại gần như nguyên bản cho đến tận ngày hôm nay. Hệ thống địa đạo gồm có 3 tầng: tầng thứ nhất sâu 12 m, dùng để sinh sống, tầng thứ hai cách mặt đất 15 m, được dùng làm nơi cất giữ lương thực và vũ khí hay hội họp và tầng cuối cùng sâu 23 m, được dùng để tránh bom. Ngay cả tầng sâu nhất, 23 m vẫn còn cao hơn mực nước biển đến 3 m, nên mọi sịnh hoạt trong địa đạo vẫn diễn ra bình thường vào mùa mưa. Toàn bộ hệ thống địa đạo Vịnh Mốc có 13 cửa thông ra ngoài, trong đó có bảy cửa thông ra biển, sáu cửa thông lên đồi, mỗi cửa hầm được coi như một lỗ thông hơi[2]. Tại các cửa hầm đều có lắp đặt gỗ chống sập và thường xuyên được gia cố để chống sụt lở. Cư dân địa đạo ít khi ra ngoài. Họ chỉ ra ngoài lúc cần thiết, lúc không nguy hiểm.

Quá trình sử dụng

Cuộc sống trong địa đạo

Tập tin:TỒN TẠI HAY KHÔNG TỒN TẠI.JPG

Tấm bảng tưởng niệm lớn tại bảo tàng địa đạo Vịnh Mốc

Cuộc sống dưới địa đạo thiếu ánh sáng, ẩm ướt vào mùa đông, nóng bức vào mùa hạ, điều kiện vệ sinh không đảm bảo nên hầu như đa số cư dân địa đạo đều bị ký sinh trùng, bạc da và các bệnh về xương. Cuộc sống đưới lòng đất không phù hợp với con người, luôn thiếu ánh sáng. Vì vậy, hầu hết các làng hầm đều tiết kiệm các chất liệu thắp sáng như dầu hoả, mỡ, chỉ những lúc cần thiết như hội họp, cấp cứu bệnh nhân, chăm sóc trẻ sơ sinh ... mới dùng đèn. Ngoài ra, việc thiếu thốn lương thực, thực phẩm và các nhu yếu phẩm cũng là vấn đề lớn nhất đối với cư dân địa đạo.

Cuộc sống bình thường đã tồn tại suốt nhiều năm trong lòng đất với đầy đủ khái niệm của sự sống như học hành, vui chơi, giải trí, yêu thương, sinh con[3]... trong một khoảng không gian 1,8 m của đường hầm.

Để duy trì nòi giống, để có người nối dõi, các gia đình, họ tộc, cư dân địa đạo Vịnh Mốc phải chia ra sống ở nhiều hầm khác nhau[3]. Trong thời gian sống trong địa đạo ở Vĩnh Linh nói chung, đã có 60 đứa trẻ được sinh ra, riêng địa đạo Vịnh Mốc đã có 17 đứa trẻ ra đời trong lòng địa đạo[4]. Ðịa đạo là nơi ở của nhân dân trong những năm chiến tranh ác liệt, lúc đông nhất có khoảng 1.200 người sinh sống. Trong gần 2.000 ngày đêm tồn tại, trong lòng địa đạo không một người nào bị thương và đã có 17 em bé chào đời, đủ nói lên giá trị và ý nghĩa của địa đạo Vịnh Mốc, đồng thời là sự tích kỳ diệu về mảnh đất và con người nơi đây[2]. Có nhiều căn hầm được tạo ra để làm phòng hộ sinh và nhà nuôi dạy trẻ. Mặc dù cuộc sống trong lòng địa đạo là gian khổ, nhưng nhiều thế hệ trẻ em vẫn tiếp tục đựơc sinh ra[4].

Thương vong

Trong thực tế chiến tranh ác liệt, nhiều hệ thống địa đạo không đủ kiên cố, khó đáp ứng được yêu cầu trú trực, chiến đấu một cách an toàn cho dân chúng vùng giới tuyến, đã có không ít tổn thất về nhân mạng. Điển hình là sự kiện vào ngày 26 tháng 2 năm 1967, địa đạo Đơn Duệ (Vĩnh Hoà) bị bom Mỹ đánh sập, làm 4 người chết; ngày 20 tháng 6 năm 1967, địa đạo Tân Lý (ở Vĩnh Quang) bị sập, làm 61 người chết; ngày 27 tháng 7 năm 1967, địa đạo Xóm Bợc (ở Vĩnh Thạch) bị sập đã có 22 người chết, địa đạo Bình Minh (ở Vĩnh Hiền) sập ngày 10 tháng 9 năm 1967 làm chết 39 người[5]... Rút kinh nghiệm đó, địa đạo Vĩnh Mốc được bố trí kiên cố và hợp lý hơn, nên không có tổn thất về người trong chiến tranh.

(BG)-Huyện Vĩnh Linh (Quảng Trị) có 20 xã thì ba xã miền núi, ba xã đồng bằng không đào được địa đạo, còn lại 14 xã và một thị trấn có 114 làng hầm địa đạo với độ nối dài đến 40 km. Trong những làng hầm địa đạo đó, chỉ có làng địa đạo Vịnh Mốc (thôn Vịnh Mốc, xã Vĩnh Thạch) được bảo tồn nguyên vẹn, là công trình tiêu biểu cho hệ thống làng hầm địa đạo Vĩnh Linh trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Khu vực giáp biển của địa đạo Vịnh Mốc.
 Bài viết 2.

Địa đạo Vịnh Mốc được xây dựng đầu năm 1965, hoàn thành vào ngày 18-2-1966 với tổng cộng khoảng 18.000 ngày công được lao động. Công trình quân - dân sự này nằm trong một quả đồi đất đỏ ba zan trên bờ biển, cách bãi tắm Cửa Tùng 7 km về phía Bắc, cách đảo Cồn Cỏ anh hùng 30km về phía Tây, cách thị trấn Hồ Xá chừng 13km về phía Đông Nam, gồm hệ thống đường hầm ba tầng dài hơn 2.000 m, trục đường chính dài 769 m, cao từ 1,5 đến 1,8 m, rộng từ 1,1 đến 2 m. Tầng một sâu cách mặt đất từ 12 đến 15 m là nơi sinh sống của nhân dân. Tầng hai sâu 18 m là nơi đóng trụ sở của ÐĐảng ủy, UBND và Bộ Chỉ huy quân sự. Tầng ba sâu 22 m là nơi trung chuyển hàng hoá, vũ khí ra đảo Cồn Cỏ và phục vụ chiến đấu của quân dân Vịnh Mốc. Để bảo đảm cho hàng trăm con người ăn, ở, sinh hoạt an toàn, tiện lợi, dọc hai bên đường hầm người ta làm rất nhiều căn hộ, mỗi căn hộ đủ chỗ cho ba đến bốn người ở. Trong lòng địa đạo có ba giếng nước, một hội trường (sức chứa 50 người), bệnh xá, nhà hộ sinh, trạm phẫu thuật, bếp Hoàng Cầm, kho gạo, trạm đặt máy điện thoại...

Toàn bộ hệ thống địa đạo Vịnh Mốc có 13 cửa thông ra ngoài, trong đó có 7 cửa thông ra biển, 6 cửa thông lên đồi, mỗi cửa hầm được coi như một lỗ thông hơi. Tại các cửa hầm đều có lắp đặt gỗ chống sập và thường xuyên được gia cố để chống sụt lở. Địa đạo là nơi ở của nhân dân trong những năm chiến tranh ác liệt, lúc đông nhất có khoảng 1.200 người sinh sống. Trong gần 2.000 ngày đêm tồn tại trong lòng địa đạo (từ năm 1965 đến 1972), đã có 17 đứa trẻ ra đời, đặc biệt không một người nào bị thương. Điều đó đã nói lên giá trị và ý nghĩa của địa đạo Vịnh Mốc.

Địa đạo Vịnh Mốc là một công trình trí tuệ và sự nỗ lực phi thường của quân và dân Vịnh Mốc. Dưới mưa bom, bão đạn, trong điều kiện thiếu ánh sáng, thiếu phương tiện, họ đã làm nên một kỳ tích cho sự tồn sinh để sống và chiến đấu giành độc lập, tự do. Làng hầm ra đời đã tạc vào lịch sử của quân dân Vĩnh Linh- Quảng Trị một nét son rực rỡ của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Người dân Vịnh Mốc đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bám trụ quê hương, chi viện cho miền Nam với ý chí sắt đá: “một tấc không đi, một li không rời; mỗi làng xã là một pháo đài”. Bởi vậy, tất cả bạn bè và những người từng là "kẻ thù" đều phải thừa nhận sự thần kỳ của một đất nước, một dân tộc mà sự tồn tại và chiến thắng của nó là tất yếu. Có rất nhiều dòng cảm xúc về làng hầm này đều công nhận: " Địa đạo Vịnh Mốc giống như một toà lâu đài cổ nằm im lìm trong lòng đất, giấu kín biết bao điều kỳ lạ về những con người đã làm ra nó và thời đại nó đã sinh ra".

Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, Bộ Văn hoá - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã quyết định công nhận địa đạo Vịnh Mốc là di tích quốc gia và đưa vào danh mục di tích đặc biệt quan trọng. Ngày nay, địa đạo Vịnh Mốc là điểm du lịch hấp dẫn du khách mỗi dịp đến vùng đất thép Quảng Trị. Hệ thống giao thông hào đã được cứng hóa để bảo tồn di tích; phía trên địa đạo rợp bóng mát của trúc, luồng và tre tầm vông…; cổng, nhà đón khách, trưng bày hiện vật được xây dựng khang trang. Du khách trong và ngoài nước đến đây ngày càng đông không chỉ để chiêm ngưỡng kỳ tích độc đáo này, mà còn có dịp cảm nhận, thán phục tài năng, ý chí và nghị lực phi thường của con người Vĩnh Linh cũng như của nhân dân Việt Nam.


Đường vào địa đạo vịnh mốc.


Một trong 13 cửa của địa đạo.


Đường đi bên trong.


Phục dựng cảnh sinh hoạt của một gia đình.


Hội trường (nơi rộng nhất trong địa đạo) - địa điểm hội họp, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ.


Phía trên địa đạo.

Hoàng Dương (giới thiệu)


Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Hồng Hà @ 09:22 02/09/2013
Số lượt xem: 380
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến