BÊN TRANG GIÁO ÁN

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý vị đến với website Chuyên môn Tiểu học.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Báo cáo sơ kết Thông tư 30

    Nhấn vào đây để tải về
    Hiển thị toàn màn hình
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Ngọc Ánh Trần
    Ngày gửi: 17h:08' 16-08-2015
    Dung lượng: 27.0 KB
    Số lượt tải: 45
    Số lượt thích: 0 người
    PHÒNG GD&ĐT KBANG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    TRƯỜNG T’H BÙI THỊ XUÂN Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

    SỐ:……/BC-THBTX Nghĩa An, ngày 22 tháng 01 năm 2015

    BÁO CÁO SƠ KẾT THỰC HIỆN THÔNG TƯ 30

    Thực hiện công văn 6169 /BGDĐT-GDTH ngày 29 tháng 10 năm 2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc thực hiện đánh giá học sinh tiểu học theo Thông tư 30 ; Công văn số 1859/SGD&ĐT ngày 24/11/2014 của Sở Giáo dục & Đào tạo tỉnh Gia Lai về việc Hướng dẫn bổ sung đánh giả học sinh tiểu học theo Thông tư 30. Trường T’H Bùi Thị Xuân báo cáo như sau:
    I. Đặc điêm tình hình
    1. Thuận lợi
    - Trường đang thực hiện chương trình VNEN mô hình trường tiểu học mới.
    - Nhà trường tạo điều kiện để cán bộ, giáo viên tiếp cận thông tư ngay từ khi ban hành.
    - Được PGD&ĐT tập huấn hướng dẫn đánh giá học sinh kịp thời theo thông tư.
    2. Khó khăn
    - HS chưa quen với cách đánh giá bằng nhận xét.
    - GV còn lúng túng trong việc sử dụng ngôn ngữ nhận xét.
    3. Quy mô trường lớp
    Tổng số : 17 lớp; 398 học sinh; Nữ: 181 ; Dân tộc: 91
    Giáo viên: 28 người
    II. Kết quả triển khai thực hiện
    Đã thực hiện từ ngày 15-10-2014 theo Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Qua thời gian thực hiện, việc đánh giá bằng nhận xét đã giảm áp lực cho HS. Kịp thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ của HS để động viên, khích lệ và phát hiện những hạn chế của HS. Các em đã tự tin hơn trong quá trình tham gia học tập, thảo luận cùng với các bạn để hoàn thành yêu cầu các môn học.
    III. Đánh giá chung
    1. Ưu điểm
    - Đã kịp thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ của HS để động viên, khích lệ và phát hiện những hạn chế của HS để hướng dẫn, giúp đỡ trong quá trình học tập, rèn luyện của HS.
    Đánh giá theo Thông tư 30, HS được giảm nhiều áp lực về điểm số, giảm sự so sánh điểm số của các em. Nội dung đánh giá được thực hiện ở học tập, năng lực, phẩm chất và có sự phối hợp giữa GV - PH - HS. Đánh giá theo quy định mới mang tính toàn diện trên các mặt và là kết quả của việc theo sát quá trình thay đổi của HS. Đánh giá tập trung nhiều vào động viên, khuyến khích, tuyên dương những thay đổi tích cực, tiến bộ của các em. Giáo viên không phê bình, chỉ trích HS trước tập thể và phụ huynh với những vi phạm, những điểm cần khắc phục của HS, GV có biện pháp để nhắc nhở riêng, tạo mọi điều kiện giúp các em sửa chữa.
    Đánh giá bằng nhận xét bao gồm cả việc đánh giá bằng lời và nhận xét vào vở. Trong quy định mới này là sau khi đánh giá học sinh, giúp GV điều chỉnh, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động dạy học, hoạt động trải nghiệm ngay trong quá trình và kết thúc mỗi giai đoạn dạy học. GV kịp thời đề ra biện pháp hỗ trợ học sinh để học sinh tiến bộ . Để đánh giá đúng, đánh giá sát thực về mức độ, khả năng của từng học sinh thì buộc giáo viên phải theo dõi, phải quan sát học sinh nhiều hơn, kĩ hơn từ đó làm tăng thêm tính yêu nghề mến trẻ, tận tâm với nghề nghiệp hơn, còn phụ huynh phải quan tâm, sâu sát việc học của con em mình để phối hợp kịp thời, chặt chẽ với giáo viên. Hiệu quả lớn nhất cách đánh giá này mang lại là giảm được tình trạng dạy thêm, học thêm, bởi điểm số của con em không còn là áp lực của phụ huynh nữa . 
    2. Hạn chế
    Theo Thông tư 30, đánh giá bằng điểm số chỉ được áp dụng trong bài kiểm tra ở một số môn vào kỳ thi cuối kỳ. Các danh hiệu HS giỏi, HS tiên tiến… cũng được bãi bỏ mà thay vào đó là khen thưởng thành tích nổi bật của HS trong các nội dung đánh giá do hiệu trưởng nhà trường quyết định. Điều này cũng gây khó khăn cho việc lựa chọn danh hiệu được khen.
    - Giáo viên: Phải dành nhiều thời gian để nhận xét bằng chữ viết. Quá trình nhận xét với mỗi HS sẽ phải lựa chọn ngôn ngữ thích hợp để làm sao phản ánh đúng chất lượng, năng lực của các em.
    Để có một câu đánh giá một cách chính xác, đánh giá đúng thực chất, giáo viên phải tư duy trong từng lời nhận xét, giáo viên phải mất thời gian ghi lời phê dành riêng cho mỗi em không giống nhau
     
    Gửi ý kiến